TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Thứ 5, ngày 17/8/2017  
Các bệnh chuyên khoa
14/07/2016 - 04:23:45 PM
Điều trị bệnh nhân u đa hình tuyến nước bọt mang tai
YHTH - U đa hình tuyến nước bọt là một khối u lành tính của tuyến nước bọt, nó chủ yếu ảnh hưởng tới thùy nông của tuyến mang tai. Bản chất “đa hình” của u là do nguồn gốc biểu mô và mô liên kết của u. U thường xảy ra nhiều hơn ở nữ từ 30 - 50 tuổi. 

    Thông thường, u tiến triển chậm sưng không gây triệu chứng. Phẫu thuật cắt bỏ khối u là phương pháp điều trị chủ yếu và hầu hết có bảo tồn dây thần kinh mặt.

Khối u lành tính phổ biến nhất của tuyến nước bọt là u đa hình 80% và có thể ở tất cả các vị trí của vùng đầu cổ do mô tuyến nước bọt được phân bố rộng rãi. Vị trí thường gặp nhất là tuyến nước bọt mang tai 85%, sau đó là các tuyến nước bọt phụ 10%, tuyến dưới hàm 5%. Trong hầu hết các trường hợp, khối u thường bắt nguồn tại thùy nông của tuyến, tuy nhiên u có thể gặp ở khoang bên hầu. U đa hình có thường là các tổn thương đơn độc nhưng nó có thể thấy cùng với các khối u tuyến nước bọt khác, phổ biến nhất là u Warthin. U đa hình có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là bệnh nhân ở độ tuổi từ 30-50.

Biểu hiện lâm sàng của u đa hình là một khối chắc, không đau, tiến triển chậm tại thời điểm chẩn đoán. U được bao quanh bởi một lớp vỏ xơ có độ dày khác nhau với ranh giới rõ giữa u và mô tuyến bình thường. Sự đa hình thái là đặc trưng của u đa đình. U đa hình có sự kết hợp của biểu mô dạng tuyến và mô dạng trung mô, nhưng các thành phần này thay đổi khác nhau.

Việc điều trị u đa hình đó là phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn và bảo tồn cấu trúc thần kinh gần nó. Việc đánh giá chính xác nhờ hình ảnh trên phim CT Scan và MRI, tiến hành chọc hút bằng kim nhỏ (FNAC) cung cấp thông tin quan trọng để lên kế hoạch điều trị. Trong điều trị u tuyến mang tai, mục tiêu phẫu thuật là phải đạt được loại bỏ hoàn toàn khối u và không gây ảnh hưởng tới dây thần kinh mặt. Vỏ bao khối u có thể bị vỡ trong quá trình phẫu thuật, do đó cần phải phẫu thuật chính xác để phẫu thuật khối u thành công.

Trường hợp lâm sàng

Bệnh nhân nữ 45 tuổi, đến khám vì lí do sưng phồng vùng mang tai trái. Khối sưng ban đầu nhỏ, sau đó to dần lên, không đau. Thời gian kể từ khi xuất hiện u cho tới thời điểm khám bệnh là 4 năm. Bệnh nhân chưa từng được điều trị bằng phương pháp nào.

Khám lâm sàng: Mặt mất cân xứng do khối u làm biến dạng mặt bên trái. U nằm tại vị trí của tuyến mang tai trái, ngay dưới ráy tai trái. Da trên khối sưng bình thường, ranh giới rõ, hình tương đối tròn. Khi sờ thấy u chắc, kích thước khoảng 6cm về đường kính. Khối u không di động, dính chắc vào cấu trúc bên dưới. Bệnh nhân không có dấu hiệu bất thường về tai, hay các triệu chứng nghi ngờ tổn thương dây thần kinh mặt. Khám trong miệng không có dấu hiệu gì bất thường.

Chẩn đoán ban đầu nghĩ tới một khối u lành tính của tuyến mang tai trái. Trong đó u đa hình và u Warthin được nghĩ tới. Tuy nhiên, u Warthin thường xuất hiện ở phần dưới của tuyến mang tai, trên các bệnh nhân nam cao tuổi, có tiền sử hút thuốc lá nhiều.

Hình ảnh panorama không có biểu hiện gì bất thường. Trên phim MRI, thấy xuất hiện một khối tổn thương đồng nhất, ranh giới rõ, đường kính khoảng 6cm tại thùy nông tuyến mang tai. Ít có dấu hiệu đè đẩy, xâm lấn các cấu trúc xung quanh.

Bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật cắt bỏ khối u cùng thùy nông tuyến mang tai. Đường rạch da tiến hành theo đường trước tai - dưới hàm dưới. Cơ bám da cổ, lớp SMAS được phẫu tích bóc tách. Các nhánh của dây thần kinh mặt được bộc lộ và bảo tồn. Khối u được cắt bỏ cùng thùy nông của tuyến.

Trên mô bệnh học, biểu hiện một khối ranh giới rõ, tỉ lệ tế bào cao, xen kẽ tế bào biểu mô và cơ biểu mô thành các đảo hay dải.

U đa hình tuyến là khối u thường gặp nhất của tuyến nước bọt. Vị trí xảy ra chủ yếu của u là tuyến mang tai. U xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường hay gặp hơn ở tuổi từ 30-50. U điển hình phát triển chậm, không gây đau, thường chắc. Hầu như tất cả đều không gây triệu chứng gì. U thường phát hiện khi thăm khám định kỳ trên lâm sàng là một khối không đau. Phần lớn u có kích thước 2-6cm khi cắt bỏ. Tuy nhiên, u kích thước lớn có thể gặp, chủ yếu ở tuyến mang tai. Buenting và cộng sự đã ghi lại 10 ca u đa hình lớn nhất từng được công bố trong các bài giảng tiếng Anh, khối lượng trung bình của u là 7,81kg. Sự yếu dây thần kinh mặt là một dấu hiệu không thường xuyên ở các khối u tuyến có kích thước lớn. Trong những trường hợp u ở thùy nông, có thể thấy xuất hiện khối ở khoang bên hầu và vùng sau amidan.

  Về chẩn đoán hình ảnh, CT và MRI là hai phương pháp hỗ trợ cần thiết trong chẩn đoán. Trên CT, các dấu hiệu của u đa đình là khối u có ranh giới rõ, bờ viền nhẵn hoặc phân thùy, là một khối đông nhất có tỷ trọng cao hơn mô tuyến xung quanh, ngấm thuốc chậm. Khi kích thước u lớn, có biểu hiện không đồng nhất, có những vùng hoại tử, chảy máu, nang hay calci hóa. U đa hình có ranh giới rõ với mô tuyến xung quanh do có một bao xơ, bao xơ này có độ dày thay đổi. Bao xơ này có được là do sự xơ hóa mô tuyến xung quanh khi khối u chèn ép và được gọi là “bao giả”. Nếu bao này được loại bỏ hoàn toàn thì các u này được giả quyết nhờ phẫu thuật. Khối u cũng có một số phần phát triển ra cả ngoài trung tâm khối, gây ra nhiều dạng tốc độ tăng trưởng của các dạng tế bào khác nhau. Chính yếu tố này khiến cho tỉ lệ tái phát cao, phụ thuộc vào dạng can thiệp phẫu thuật. Các dấu hiệu trên MRI cho thấy tổn thương đồng nhất, giới hạn rõ, giảm tín hiệu trên T1 và tăng tín hiệu trên T2. Ngoài ra, siêu âm cũng giúp phân biệt tổn thương dạng nang với tổn thương đặc. Siêu âm kết hợp với chọc hút bằng kim nhỏ cũng có giá trị.

  Về mô học, u đa hình đặc trưng bởi sự đa hình thái. Các tế bào biểu mô nằm sắp xếp dạng dải, đảo có có trúc ống điển hình, các loại tế bào biểu mô và cơ biểu mô khác nhau như gai, tế bào sáng, tế bào vảy, tế bào đáy, plasma, … trong một khung nên chứa hỗn hợp xơ, sụn, nhầy hyaline.

  Tỉ lệ chuyển dạng ác tính của u đa hình khoảng 1,9% - 23,3%. Nguy cơ này gia tăng theo thời gian, sự tái phát và tuổi cũng như vị trí của u.

  Mức độ xâm lấn, sự lan rộng của u và tương quan của u với dây thân kinh mặt là tiêu chuẩn quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị u đa hình. Nạo bỏ u, cắt bỏ u và thùy nông của tuyến hay cắt toàn bộ tuyến có bảo tồn dây thần kinh mặt hiện nay vẫn được áp dụng điều trị cho u đa hình tuyến mang tai.

Theo YHTH (1000), số 3/2016

[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Bệnh vô sinh tại Việt Nam đang gia tăng (28/06/2017 - 07:34:43 PM)
Kỹ thuật lọc máu hiện đại: cuộc cách mạng trong hồi sức (24/06/2017 - 07:48:01 PM)
Kiểm soát ung thư cổ tử cung (23/06/2017 - 07:40:44 PM)
Một số bệnh thường gặp ở người già (22/06/2017 - 07:58:31 PM)
Những điều cần biết về bệnh tăng áp động mạch phổi (07/08/2016 - 01:38:55 PM)
Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư bằng phiến đồ Pap (28/07/2016 - 09:31:21 PM)
Điều trị bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cấp (26/07/2016 - 10:37:29 PM)
Chẩn đoán và điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở trẻ em (05/07/2016 - 03:29:57 PM)
Bệnh liên quan tới rối loạn các chất trong lysosome (10/06/2016 - 11:18:41 AM)
Nội soi trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (10/05/2016 - 10:51:00 PM)
Chẩn đoán và điều trị u thần kinh nội tiết ở đường sinh dục nữ (17/12/2015 - 10:49:15 PM)
Bệnh rối loạn thái dương hàm và phương pháp điều trị (09/05/2015 - 09:26:56 AM)
Hiện tượng đáp ứng tăng huyết áp cấp tính ở bệnh nhân xuất huyết não giai đoạn cấp (13/03/2015 - 03:56:19 PM)
Chẩn đoán lao tinh hoàn (02/03/2015 - 02:43:26 PM)
Nấm phổi do Aspergillus thể xâm nhập (14/01/2015 - 03:02:38 PM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm