TÓM TẮT
Tỷ lệ chuột nhắt trắng sống sót ở nhóm có vết thương (VT) bị nhiễm độc diclodietylsulfid (DCDS) hoặc clovinyldicloasin (CDA) đều thấp hơn so với nhóm chuột bị nhiễm độc qua da lành và nhóm có VT không bị nhiễm độc.
Tiêu độc VT bị nhiễm DCDS ở thời điểm 2 phút hoặc cắt lọc VT ở phút thứ 30 sau nhiễm độc đều làm tăng tỷ lệ động vật sống sót. Nhóm chuột được điều trị phối hợp vừa tiêu độc, cắt lọc vừa bôi VT bằng kem Herbavera có tỷ lệ sống sót cao hơn nhóm chỉ cắt lọc đơn thuần. Tiêu độc VT muộn ở phút thứ 30 sau nhiễm độc, tỷ lệ chuột sống sót thay đổi không có ý nghĩa thống kê so với nhóm không được điều trị.
Tiêu độc VT bị nhiễm CDA ở thời điểm 2 phút hoặc cắt lọc VT ở phút thứ 10 sau nhiễm độc đều làm tăng tỷ lệ động vật sống sót. Nhóm chuột được điều trị phối hợp vừa tiêu độc, cắt lọc vừa bôi VT bằng kem Herbavera có tỷ lệ sống sót không khác biệt so với nhóm chỉ cắt lọc hoặc tiêu độc đơn thuần. Tiêu độc VT bị nhiễm CDA muộn ở phút thứ 10 sau nhiễm độc, không làm tăng được tỷ lệ chuột sống sót.
* Từ khóa: Diclodietylsulfid, clovinyldicloasin, vết thương phần mềm, tỷ lệ động vật sống sót.