TÓM TẮT
Đặt vấn đề: UTĐTT đứng hàng đầu trong ung thư đường tiêu hóa. Triệu chứng không rõ ràng trừ khi có biến chứng. Chẩn đoán bằng nội soi đại tràng và sinh thiết. Điều trị phẫu thuật là chủ yếu, hóa xạ trị cải thiện thời gian sống sau mổ. NC rút ra một số kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị phẫu thuật UTĐTT.
Đối tượng và phương pháp: NC tiến cứu tất cả các trường hợp phẫu thuật UTĐTT từ 1/2008 đến 12/2009 tại Bệnh viện Hữu Nghị.
Kết quả: 114 trường hợp UTĐTT được phẫu thuật: Nam 78,9%, nữ 21,1%; tỷ lệ nữ/nam: 1/3,75. Tuổi trung bình 65,75 ±12,53, nhỏ nhất 22, lớn nhất 88. Yếu tố nguy cơ: Hút thuốc lá 23,7%, viêm đại tràng 12,3%. Phối hợp: Tăng huyết áp 37,7%, bệnh phổi mạn tính 14%, u xơ tiền liệt tuyến 14%, đái đường 9,6%, bệnh lý tim mạch 7%...Lâm sàng: Đau bụng và RLTH 48,2%, ỉa máu 42,1%%, tắc ruột 12,3% %, thiếu máu 34,7%, CEA và CA19-9 tăng 55,7%. Nội soi đại tràng 86,8%. Mô bệnh học: UTBM tuyến 85,9%, ung thư tuyến nhầy 12,3%, u lympho 0,9%, di căn không biệt hóa từ đường tiêu hóa 0,9%. Giai đoạn bệnh: Dukes A 15,8%, Dukes B 29,8%, Dukes C và D 54,4%. Mổ cấp cứu 13,1%, mổ có chuẩn bị 86,9%, có hỗ trợ nội soi 7,9%. Vị trí u: Đại tràng phải 14,9%, đại tràng ngang 11,4%, đại tràng trái 32,5%, trực tràng 37,7%, u đồng thời 3,5%. Phẫu thuật cắt u nối ngay thì đầu 63,1%, cắt u làm HMNT 16,7%, phẫu thuật Hartmann 14,9%, không cắt u chỉ làm HMNT 4,4%, nối tắt 0,9%. Biến chứng sau mổ 12,3%, tỷ lệ tử vong 1,7%. Phối hợp hóa xạ trị sau mổ 52,6%.
Kết luận: UTĐTT vẫn là một thách thức trong chẩn đoán sớm và điều trị. Điều trị phẫu thuật phụ thuộc vào giai đoạn bệnh và tình trạng toàn thân. Phẫu thuật kết hợp với hóa chất sau mổ là mô hình phù hợp tại Bệnh viện Hữu Nghị.
Từ khóa: UTĐTT, Bệnh viện Hữu Nghị.